Vào năm 1951 đảng cộng sản đông dương đổi tên thành đảng lao động Việt Nam, một loại dưới trướng nếu không muốn nói là thứ tay sai của đảng cộng sản Tàu. Ngay sau khi hoạt động công khai, ô Hồ và các đệ tử mê muội điên cuồng của ông ta bèn phóng tay phát động quần chúng với khẩu hiệu "trí địa hào đào tận gốc, róc tận rễ". Thật là ngu muội và ác độc! Tuy nhiên, nhờ chủ trương tiêu diệt KẺ TRÍ, HCMinh và các tay cộng sản quyền lực khác mới ung dung múa-gậy-vườn-hoang và gieo nọc độc cộng sản vào Việt Nam.
Phải ghi nhận rằng ngay dưới thời phong kiến, các bậc minh quân phải chiêu hiền đãi sĩ để có thể kinh bang tế thế. Từ lâu Nhật Bản, Đại Hàn đã xem đội ngũ trí thức - tầng lớp sĩ phu là cội rễ của dân tộc. Nhờ đó, hai quốc gia này được Liên Hiệp Quốc đánh giá là phát triển nhanh nhất trong thế giới hiện đại. Cùng lúc đó, tổ chức quốc tế này lại xếp xứ CHXHCNVN thuộc loại hạng bét trên toàn cầu - đứng thứ125/126 (chỉ hơn Libya châu Phi) về sự đóng góp cho thế giới. Nói thẳng ra, đất nước Việt Nam cộng sản hình như chẳng đóng góp lợi ích gì cho cộng đồng nhân loại! Xem thế, dưới chế cộng sản - độc tài - công an trị tại Việt Nam hiện nay, chẳng có một ai phát minh về khoa học kỹ thuật y tế, học thuyết kinh tế, phương pháp phòng chống ô nhiễm môi sinh... Coi bộ tập đoàn cộng sản quyền lực hiện nay tại Hà nội hầu như rập khuôn với ê kíp HCMinh - TChinh - LDuẩn - PVĐồng...khoảng 60 năm trước về đường lối chủ trương hết sức tệ hại đối với thành phần trí thức chân chính yêu nước. .Ngược lại, với cơ cấu chính trị cộng sản độc tôn bạo trị, xứ CHXHCNVN đã tỏ ra hết sức tài tình để nhanh chóng vươn tới ngồi chung với nhóm nước mà các cấp lãnh đạo quyền lực tham nhũng nhất trên thế giới! (Theo phúc trình của Ngân Hàng Thế Giới năm vừa qua).
Tiếp theo, cần nói thêm về chủ trương "trí địa hào đào tận gốc róc tận rễ" của đảng cộng. Độc chiêu loại này dẫn đến hơn hàng chục vạn cuộc đấu tố tại miền Bắc1955-1956 trong 5 đợt cải cách ruộng đất mà người cộng sản một thời rất tự hào và còn gọi đó là cuộc "cách mạng long trời lở đất!" Chính ô Hồ và đảng cộng đã kích động: xúi giục bần nông, bần cố nông, tá điền đấu tố phú nông địa chủ, trò tố thầy, người ở tố chủ nhà, vợ tố chồng, con tố cha...Không có chứng cớ cũng phải bịa ra bằng chứng để tố. Trường Chinh đích thị là Đặng Xuân Khu đã mở đầu đấu tố điển hình. Y đã gọi người cha đẻ bất hạnh là thằng địa chủ ác ôn và cũng chính ông tòa nhân dân này đã ra lệnh cho đám bần cố nồng nọc cha hắn ở cột đình, và bọn người khát máu đánh nạn nhân cho đến chết ngất! Đây là một trong những nét đặc thù nổi bật nhất của một thứ biến động lịch sử kéo dài; và trong biến động hãi hùng đó, bàn tay của đủ loại cộng sản đã vấy máu người dân lành vô tội ở miền Bắc sau năm 1954.
Biến động lịch sử đó gắn liền với hơn hàng chục vạn cuộc đấu tố. Đây là phương cách để phá sạch mọi giềng mối luân thường xã hội ngỏ hầu mở đường cho lãnh tụ đảng cộng gieo nọc độc cộng sản vào Việt Nam. Thời đó, dân gian còn gọi đấu tố là TỐ KHỔ. Nói rõ hơn, đó là thứ đấu tố bẩn thỉu và ác độc của đủ loại thành phần cặn bã xã hội mê muội và khát máu bị kích động xúi giục bởi HCMinh và đảng cộng. Trong suốt hai năm, TỐ KHỔ đã gây nên hậu quả thảm khốc. Thật vậy, ô Hồ và cộng sản các cấp đã thực sự loại trừ khoảng hai triệu người bao gồm: bị giết chết tại chỗ, bị hành hạ đánh đập phế tật, bị đầy ải chết dần chết mòn trong trại tập trung và thân nhân của toàn bộ nạn nhân loại này bị trù dập về lâu dài sau đó. Sau 1954, toàn miền Bắc trở nên điêu tàn thê lương, bao gồm cả Hà nội. Người dân sống trong bầu không khí sợ hãi chết chóc.
Thật lạ lùng trong khi một đợt cải cách ruộng đất đang được tiến hành trên toàn vùng nông thôn thì thành phố Hà nội đi vào những cơn mưa không ngớt. Mưa ngày - mưa đêm - mưa tầm tã - mưa đầy trời. Hình như Trời Phật Thượng Đế xót thương cho nổi thống khổ mà toàn dân miền Bắc phải gánh chịu! Tức cảnh sinh tình rồi bừng tĩnh cơn mê, Trần Dần (chính ủy sư đoàn Việt Minh - cộng sản) phải thốt lên "Ta đi không thấy phố thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên hàng cờ đỏ!". Chỉ với hai câu thơ này thôi, thi sĩ tài hoa sau đó bị đẩy vào trại tập trung trong vùng rừng núi âm u thuộc miền trung du dài hạn, không ngày về!
Bên cạnh TỐ KHỔ, còn có loại TỐ THIỆN. Đại để người ta có thể hiểu những người lương thiện trong xã hội cộng sản cũng là các đối tượng bị đấu tố loại trừ theo những cách riêng biệt. Có lẽ, có chút gì đó không ổn khi xử dụng cả hai cặp-từ-ngữ này. Tuy nhiên một thời giới bình dân, nhất là trong hàng triệu người Bắc di cư vào Nam sau 1954, thường quen gọi như thế. Vì vậy, thiết nghĩ kẻ hậu sinh không nên sửa đổi. TỐ KHỔ được thực hiện bởi những kẻ thấp hèn bị xúi giục để đấu tố đối tượng thù nghịch công khai trước loại đám đông mê loạn khát máu. Khác với kiểu đấu tố này, TỐ THIỆN có một số yếu tố đăc biệt:. *Kẻ trực tiếp ra tay - các cấp đảng cộng hoặc tay sai. *Cách thức hành động - âm thầm mà tàn độc như ám sát thủ tiêu, khủng bố ám hại, bắt cóc bỏ tù...*Đối tượng thù nghịch - bất cứ những ai có uy tín và ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng nhưng không chịu cúi đầu ngoan ngoãn phục tùng đảng cộng. Sau đây là một vài nạn nhân đặc biệt của loại TỐ THIỆN.
*Đức Huỳnh Phú Sổ: Ở tuổi 19, 20 HPSổ có thể xuất-khẩu-thành-giáo-pháp, rồi lập đạo Phật Giáo Hòa Hảo. Chẳng bao lâu sau đó, ông còn là lãnh tụ Dân Xã Đảng. Uy tín của Đức Huỳnh nhanh chóng lan rộng khắp miền đồng bằng sông Cửu Long. Khoảng giữa năm 1947, Trần Văn Giàu - tên thủ lãnh VMinh nam bộ (đã bỏ hàng ngũ cộng sản đệ tứ QT để chạy theo HCM csản đệ tam) đã mời lãnh tụ DXĐảng hợp tác để cùng nhau chống thực dân Pháp. Tiếc thay chỉ vì đi với MA mà lại mặc ÁO CÀ SA, trên đường đến điểm hẹn Đức HPSổ đã lọt vào ổ phục kích của Việt Minh (công sản) và mất tích biền biệt từ độ đó.
*Lý Đông A: Ở tuổi 21 mà ông đã có vốn kiến thức uyên bác. Bằng những lập luận săc bén, LĐôngA đã bác khước toàn bộ những luận điểm của Karl Marx và Friedrich Engels trong Tuyên ngôn đảng csản năm 1848 (The communist Manifesto) và bộ Tư bản luận năm 1864 (của riêng Marx). Thay vào đó, ông đề ra 99 phép trị nước trong một loại bí kiếp gọi là Chu Tri Lục. Ngay sau đó, ông là lãnh tụ của đảng Đại Việt Duy Dân với tiếng tăm khá lừng lẫy. Thời bấy giờ, giới trí thức đã xem ông như một lý thuyết gia. Trái lại, HCMinh và cộng sản đồng bọn (hầu hết học hành không ra gì hoặc vô học) đã coi Lý Đông A như cái-gai-trong-mắt. Quả nhiên chẳng bao lâu sau đó, bọn chúng đã "nhổ" nó và vứt đi.
*Ngô Đình Diệm: Ở khoảng tuổi 30, NĐDiệm giữ chức thượng thư bộ lại (đứng đầu lục bộ - thủ tướng) thời hoàng đế Bảo Đại. Chẳng bao lâu sau đó, ông từ quan vì bất đồng đường lối chính sách của nhà vua. Cha của ông là Ngô Đình Khả và kể cả ông đều nổi tiếng tiết tháo. (đày vua không KHẢ). Từ thời điểm đó, tầng lớp sĩ phu và giới quan lại thanh liêm thường gọi ông là chí sĩ Ngô Đình Diệm. Sau khi suýt chết về tay VMinh, ông bôn ba nơi hải ngoại. Bọn cộng sản các cấp về sau thường chặc lưỡi lấy làm tiếc là đã để ông Diệm đào thoát. Sau 1955, Ngô Đình Diệm trở thành tống thống của nền đệ nhất VNCH. Oan nghiệt thay, bị giựt giây từ nhiều phía, bọn phản phúc toa rập với các thế lực đen tối đã giết chết vị tổng thống hết lòng vì nước trong cuộc đảo chánh quân sự 1/11/1963.
Điều đáng chú ý là trong khi biến cố năm 1963 diễn tiến tại miền Nam ở giai đoạn cuối, ô Hồ còn đang tiếp trưởng ban biên tập của tờ L'humanité (cơ quan ngôn luận của đảng csản Pháp) tại Hà nội - miền Bắc. Nhà báo người Pháp này về sau nói rằng khi được tin anh em ông Diệm bị giết, Hồ Chí Minh bèn vỗ đùi cái đét và hỉ hả nói, "ta thắng rồi!". Sau đó, cộng sản Hà nội mở tiệc ăn mừng. (còn tiếp)
Góp ý, xin liên lạc: trangsiphu@gmail.com
No comments:
Post a Comment